Nghịch lý của hiện tượng thần đồng

Một hiện tượng thường hay được báo chí nói đến và thường khiến chúng ta băn khoăn, đó là: không ít các “thần đồng” - lúc nhỏ tuổi tỏ ra rất “thần kỳ” - có tri thức siêu phàm - vượt xa những em bé cùng tuổi rất nhiều, ấy thế nhưng khi lớn lên thì chỉ là một người bình thường! Ví dụ có một thời chú bé thần đồng Kim Xung Cao người Hàn Quốc đã từng nổi danh khắp thế giới, được báo chí khắp nơi ca ngợi: mới lên 2 tuổi đã đọc và viết được tới 2500 chữ Hán, lúc 10 tuổi hệ số thông minh (IQ) đạt tới 210. Thế nhưng, khi lớn lên, tài năng của Kim dường như cứ giảm dần: trong đợt thi tuyển vào đại học năm 1979 Kim chỉ được xếp thứ 2420 trong số 2763 thí sinh; tới năm 1990, khi đó đã 27 tuổi, báo chí đã đánh giá Kim như một người hết sức bình thường. Những thí dụ đại loại như trên không thể kể hết!

Muốn hiểu rõ những bí ẩn của hiện tượng thần đồng, vấn đề mấu chốt là cần phải hiểu rõ nội dung của khái niệm được gọi là “trí lực”. Để đánh giá trí lực, lâu nay người ta thường sử dụng hệ số thông minh - IQ. Thế nhưng IQ chủ yếu chỉ thể hiện “khả năng học tập” trong quá trình tiếp nhận kiến thức. Trên thực tế, trong phần lớn các trường hợp, IQ đã bị không ít nhà giáo dục xem như là “hệ số học tập”. Khi một người còn đang học tập tại nhà trường, có thể dùng IQ để đánh giá năng lực và trình độ học tập. Thế nhưng, một khi đã kết thúc học nghiệp, bước vào lĩnh vực nghiên cứu, thì “hệ số học tập” không còn thích hợp để có thể đánh giá toàn diện về năng lực thực tế của một người. Khi đó cần có một loại thước đo mới, đó là “sức sáng tạo”.

 Thông thường người ta vẫn cho rằng “sức sáng tạo” cao hơn “sức học tập” về phương diện trí tuệ. Phải có trí thông minh tuyệt đỉnh và khả năng học tập cực cao mới có thể hình thành được năng lực sáng tạo. Thế nhưng, các nghiên cứu về tâm lý học gần đây lại đưa ra kết luận bất ngờ: giữa trí lực và sức sáng tạo không có mối liên hệ quan mật thiết như người ta vẫn tưởng. Một công trình nghiên cứu ở nước ngoài cho thấy: nhóm “có sức sáng tạo cao” có hệ số IQ bình quân không những thấp hơn nhóm “có trí lực cao”, thậm chí còn thấp hơn so với các học sinh cao học. Điều đó cho thấy rõ: để trở thành một người có khả năng sáng tạo chỉ cần có hệ số trí lực trung bình - một người có hệ số trí lực trung bình cũng có thể bồi dưỡng thành một nhà sáng tạo. Mặt khác, người có hệ số trí lực cao chưa chắc đã bộc lộ năng lực sáng tạo. Nói chung, năng lực học tập gắn liền với quá trình tích luỹ kiến thức; không phải là tri thức càng nhiều thì khả năng sáng tạo càng cao. Có khi, sự đầy đủ về tri thức lại dễ dẫn đến tình trạng lệ thuộc vào nếp nghĩ của người đi trước, khiến cho khả năng sáng tạo bị kiềm chế. Điều đó còn có một ý nghĩa nữa là: một người có thể thành công trong học tập, nhưng chưa chắc đã thành công trong sự nghiệp tương lai.

 Năng lực học tập, đặc biệt là học tập các môn khoa học tự nhiên, đòi hỏi chủ yếu là phương thức tư duy tập trung, duy lý. Để thực hiện công việc sáng tạo lại cần có phương thức tư duy phân tán, đặc dị. Trong hoạt động học tập, mục tiêu được xác định rõ ràng, cách thức tư duy có quy tắc, phạm vi tri thức cần đến có giới hạn rõ ràng, cá tính không có một vai trò quan trọng. Ngược lại, trong hoạt động sáng tạo thì mục tiêu lại chưa rõ ràng, phải đột phá ở đâu v&a 2000 grave; thực thi thế nào chưa thể biết trước được, cách thức tư duy lại không thể tuân theo những quy tắc đã định, phạm vi tri thức cần đến lại không có ranh giới rõ ràng, và cá tính ở đây có vai trò mang tính quyết định. Nói tổng quát, năng lực học tập thể hiện ở cách thức nhanh chóng đạt tới một trình độ có trước, đạt tới một kỷ lục; còn năng lực sáng tạo thì thể hiện ở cách thức vượt qua những cái gì có trước, là phá vỡ kỷ lục.

 Qua các khái niệm đã đề cập tới ở trên, chúng ta có thể dễ dàng lý giải những nghịch lý về hiện tượng thần đồng. Có thể thấy, các thần đồng mới chỉ có các tố chất về năng lực học tập, còn khả năng sáng tạo thì chưa chắc đã cao hơn ở người bình thường, thậm chí có khi còn thấp hơn. Do đó, mặc dù các thần đồng có thành tích học tập xuất chúng, song điều đó chưa thể bảo đảm để họ trở thành những người thành đạt trong sự nghiệp sau này. Như vậy cũng có thể nói, một số thần đồng chỉ có thành tích học tập cao, còn khả năng sáng tạo thì cũng chỉ bình thường. Do đó, trong công tác nghiên cứu và sinh hoạt học thuật sau này, họ có thể cũng chỉ là những người hết sức bình thường.

 Các nghiên cứu về não cũng đã cho thấy bán cầu não trái và bán cầu não phải của con người được “phân công nhiệm vụ” rõ ràng - “chuyên môn hóa” cao độ. Cụ thể, não trái chuyên tư duy trìu tượng, não phải chuyên tư duy hình tượng. Não trái chuyên xử lý ngôn ngữ, ký hiệu, con số..., não phải chuyên xử lý hình tượng, âm thanh, vị trí trong không gian... Trong các hoạt động sáng tạo, vai trò của não trái và não phải khác nhau. Não phải có thể sản sinh ra các thông tin dựa trên sự “đốn ngộ” - hình thức tư duy vô ý thức, chỉ dựa trên trực giác... Còn não trái tiến hành xử lý, phân tích, nghiệm chứng, khái niệm hóa, lô-gic hóa các thông tin, các tư liệu do sự “đốn ngộ” ở não phải mang lại, cuối cùng mới biểu đạt ra dưới hình thức ngôn ngữ. Sản phẩm trong các hoạt động sáng tạo đầu tiên được hình thành dựa trên các hình thức tư duy đặc kỳ - tư duy phi ngôn ngữ, sau đó mới dùng đến tư duy ngôn ngữ để nghiệm chứng.

 Hiện nay, giáo dục vẫn tập trung vào việc phát triển các khả năng của não trái - chỉ coi trọng việc rèn luyện các kỹ năng tư duy ngôn ngữ và tư duy lô-gic. Đối với các hoạt động sáng tạo, cách tư duy duy lý như vậy không thể thích hợp được. Tài năng của rất nhiều thần đồng chỉ thể hiện ở phương diện học tập và tích luỹ tri thức, cho nên sau khi rời khỏi ghế nhà trường, sau khi bước vào các lĩnh vực lao động sáng tạo thực tế, các thần đồng chẳng có gì là nổi bật so với những người khác. Nhiều người đã ngạc nhiên trước hiện tượng “thoái hóa” của các thần đồng, song trên thực tế, đó chỉ là một sản phẩm tất yếu của phương thức giáo dục coi trọng não trái và coi nhẹ não phải.

 Qua việc tìm hiểu về hiện tượng thần đồng, chúng ta càng thấy rõ hơn các tệ nạn của giáo dục hiện tại: chúng ta chỉ tập trung khai thác các tiềm năng của não trái, chỉ tập trung bồi dưỡng tài năng học tập. Đó chưa phải là thứ tài năng sáng tạo mà xã hội đang cần. Hoạt động sáng tạo cần có sự tham gia đồng thời của cả hai bán cầu não - chỉ tập trung khai thác đơn thuần một bán cầu não, chỉ chú trọng não trái hoặc là chỉ chú trọng não phải, đều sẽ không đem lại được kết quả tốt. Mặt khác, nếu chỉ chú ý phát triển đơn thuần một bán cầu não, thì bán cầu còn lại sẽ bị ức chế và kém phát triển. Chỉ có cách phối hợp một cách khoa học cả hai bán cầu não thì mới có thể đạt tới được trạng thái cân bằng và đào tạo được những người có khả năng sáng tạo mà xã hội yêu cầu./.

 

Hư Đan
 

Bài viết liên quan